KHI LY HÔN CON CHUNG ĐƯỢC GIẢI QUYẾT NHƯ THẾ NÀO?

Công ty Luật Vũ Như Hảo & Cộng sự thường nhận được các câu hỏi về việc giải quyết con chung khi cha mẹ thực hiện thủ tục ly hôn tại tòa án như: Con chung được hiểu như thế nào? Căn cứ nào xác định được con chung? Khi thực hiện thủ tục ly hôn tại tòa án vấn đề trợ cấp nuôi con được giải quyết như thế nào? Khi giải quyết ly hôn chồng không thừa nhận con chung? v.v… Để có cái nhìn tổng quan về vấn đề con chung khi ly hôn, chúng tôi tổng hợp và khái quát như sau:

1. Về Định nghĩa con chung?
Con chung là con được sinh ra trong thời kì hôn nhân hoặc con do người vợ có thai trong thời kì hôn nhân. Với khái niệm này, Luật hôn nhân hiện tại xác định con chung là con được mang thai và/hoặc sinh ra trong thời kỳ hôn nhân (tính từ thời điểm có giấy tờ kết hôn hợp pháp).
Con sinh ra trước ngày đăng kí kết hôn và được cha mẹ thừa nhận cũng là con chung của vợ chồng.
Trong trường hợp cha hoặc mẹ không thừa nhận nhưng có chứng cứ để Toà án căn cứ ra quyết định xác định là con của hai người thì cũng là con chung của vợ chồng.
Con được sinh ra mà cha mẹ không có đăng kí kết hôn, không sống chung với nhau như vợ chồng trên thực tế thì vẫn là con chung của hai người và thường được gọi là con ngoài giá thú.
Con nuôi do vợ chồng cùng nhận nuôi cũng là con chung của vợ chồng.
– Con ngoài giá thú được hiểu là con ngoài hôn nhân.
– Con ngoài hôn nhân có nghĩa là con có cha/mẹ không phải là vợ/chồng.
Thông thường con ngoài hôn nhân được người mẹ thụ thai và sinh ra trong khoảng thời gian không tổn tại quan hệ hôn nhân (không có chồng). Trong một số trường hợp, con ngoài hôn nhân được người mẹ có thai hoặc sinh ra trong thời kì hôn nhân (đang có chồng), nhưng người chồng đã chứng minh được trước Toà án và được Toà án quyết định người chồng không phải là cha của người con đó. Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa con trong hôn nhân Và con ngoài hôn nhân. Người cha, người mẹ có con ngoài hôn nhân phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với người con đó như đối với con trong hôn nhân, Con ngoài hôn nhân có quyền yêu cầu Toà án xác định cha, mẹ cho mình, kể cả trong trường hợp người được xác định là cha, mẹ đã chết. Toà án xác định cha, mẹ cho con dựa trên những sự kiện pháp li nhất định.

2. Căn cứ để xác định con chung
Điều 88 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc xác định cha mẹ như sau:
“1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.
Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.
Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.
2. Trong trường hợp cha, mẹ không nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định”
Con được coi là con chung của hai vợ chồng khi thuộc một trong các trường hợp nêu trên, việc xác định con chung có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc ghi nhận mối quan hệ cha, mẹ, con và là căn cứ pháp lý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh như: giải quyết các án kiện về ly hôn, chia tài sản thừa kế, thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng…Căn cứ vào nội dung này ta có thể xác định nếu con sinh ra sau trong thời hạn 300 ngày kể từ ngày ly hôn thì vẫn được coi là con chung của vợ chồng.
Nếu căn cứ vào đó vẫn không xác định được con chung thì có thể thực hiện thủ tục giám định ADN để xác định con chung.

3. Nếu trong trường hợp chồng không nhận con
Căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 88 Luật hôn nhân và gia đình 2014 đã nêu trên, khi ly hôn nếu chồng cũ không nhận đứa trẻ bạn sinh ra là con chung thì anh ta phải có bằng chứng và được Tòa án xác định. Vậy, khi chồng cũ cố tình không nhận thì vợ có thể làm đơn khởi kiện ra tòa án để xác định cha con cho con của mình, kèm theo đơn khởi kiện thì cần chuẩn bị các chứng cứ để chứng minh đứa trẻ là con của chồng cũ mà chứng cứ rõ ràng và chuẩn xác nhất là kết quả xét nghiệm ADN, bạn có thể tự mình hoặc đề nghị Tòa án giám định ADN của đứa trẻ theo quy định tại Điều 102 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015:
Điều 102. Trưng cầu giám định, yêu cầu giám định
1. Đương sự có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định hoặc tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị Tòa án trưng cầu giám định nhưng Tòa án từ chối yêu cầu của đương sự. Quyền tự yêu cầu giám định được thực hiện trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự.
2. Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán ra quyết định trưng cầu giám định. Trong quyết định trưng cầu giám định phải ghi rõ tên, địa chỉ của người giám định, đối tượng cần giám định, vấn đề cần giám định, các yêu cầu cụ thể cần có kết luận của người giám định.
3. Trường hợp xét thấy kết luận giám định chưa đầy đủ, rõ ràng hoặc có vi phạm pháp luật thì theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án yêu cầu người giám định giải thích kết luận giám định, triệu tập người giám định đến phiên tòa, phiên họp để trực tiếp trình bày về các nội dung cần thiết.
4. Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định bổ sung trong trường hợp nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh vấn đề mới liên quan đến tình tiết của vụ việc đã được kết luận giám định trước đó.
5. Việc giám định lại được thực hiện trong trường hợp có căn cứ cho rằng kết luận giám định lần đầu không chính xác, có vi phạm pháp luật hoặc trong trường hợp đặc biệt theo quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao theo quy định của Luật giám định tư pháp.”
Tóm lại, nếu kết quả trưng cầu giám định xác định chồng cũ và đứa trẻ có quan hệ huyết thống thì Tòa án sẽ xác định quan hệ cha con trong trường hợp này, dù chồng cũ dù cho có cố tình không nhận thì cũng phải thực hiện những nghĩa vụ đối với con của mình, nếu không thực hiện thì sẽ bị cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật.

4. Nghĩa vụ cấp dưỡng sau khi xác định con chung
Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này.
Thông thường khi con cái không sống chung với cha mẹ thì nghĩa vụ nuôi dưỡng trở thành nghĩa vụ cấp dưỡng. Nghĩa là nghĩa vụ cấp dưỡng được đặt ra đối cha/ mẹ – người không trực tiếp nuôi dạy đứa trẻ. Vậy, làm sao để xác định ai là người có quyền nuôi dạy đứa trẻ, ai là người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng?
T/H 1: Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng theo Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Hai bên tự thỏa thuận hoặc Tòa án chỉ định người trực tiếp nuôi con dựa trên các căn cứ sau:
Các bên không thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được.
Đảm bảo quyền và lợi ích của đứa trẻ kể cả về vật chất và tinh thần.
T/H 2: Người trực tiếp nuôi con đồng thời cũng có nghĩa vụ cấp dưỡng.
Tòa án xem xét việc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng của người trực tiếp nuôi con dựa trên:
Mức độ vi phạm. Những vi phạm này phải chưa đạt đến mức độ nghiêm trọng để có thể yêu cầu Tòa án xem xét thay đổi người trực tiếp nuôi
Có yêu cầu Tòa án yêu cầu bên trực tiếp nuôi con từ bên không trực tiếp nuôi con thực hiện cam kết thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con một khoản tối thiểu để đảm bảo nhu cầu thiết yếu và cơ bản của con.
Điều này nhằm đảm bảo việc nuôi con của bên trực tiếp nuôi con có trách nhiệm hơn, tránh trường hợp bỏ bê, không quan tâm con cái do thù ghét chồng/vợ trước hoặc lấy lý do đời sống khó khăn để yêu cầu mức cấp dưỡng cao hơn. Do đó, khi cha hoặc mẹ không sống chung với con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

5. Phương thức cấp dưỡng nuôi con chung
Phương thức cấp dưỡng được xác định ưu tiên qua sự thỏa thuận giữa các bên bằng văn bản hoặc bằng miệng và được ghi nhận trong bản án của Tòa án. Nếu không tự thỏa thuận được sẽ do Tòa án quyết định theo quy định tại Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì có hai phương thức cấp dưỡng như sau:

Cấp dưỡng theo định kỳ:
Đến kỳ cấp dưỡng cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng. Tuy nhiên, nếu trong quá trình thực hiện mà người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế, không có khả năng thực hiện nghĩa vụ thì các bên có thể thỏa thuận với nhau về mức cấp dưỡng hoặc tạm ngừng cấp dưỡng. Nếu không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu Tòa án gỉai quyết.
Cấp dưỡng một lần
Phương thức cấp dưỡng một lần thuận tiện và có lợi cho trẻ hơn so với phương thức cấp dưỡng định kì, tránh tình trạng trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng và trẻ và người trực tiếp nuôi con được hưởng phần hoa lợi, lợi tức phát sinh từ khaonr tiền cấp dưỡng đó. Tuy nhiên do số tiền cấp dưỡng theo phương thức này có giá trị tương đối lớn nên chỉ phù hợp khi người cấp dưỡng có điều kiện kinh tế.

6. Mức cấp dưỡng
Tương tự như cách xác định phương thức cấp dưỡng, mức cấp dưỡng ưu tiên do các bên tự thỏa thuận bằng văn bản hoặc bằng miệng và được ghi nhận trong bản án của Tòa án. Nếu không tự thỏa thuận được sẽ do Tòa án quyết định theo quy định Điều 116 Luật hôn nhân và gia đinh năm 2014 về mức cấp dưỡng của người có nghĩa vụ cấp dưỡng:
Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trên đây là giải đáp của Công ty chúng tôi, quý khách hàng cần tư vấn thêm hoặc sử dụng dịch vụ pháp lý của chúng tôi vui lòng liên hệ qua những cách sau:
• Điện thoại/Zalo: 0386-533-086
• E-mail: VPLSHaovaCongsu4@gmail.com