LY HÔN LÀ GÌ? NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý KHI LY HÔN

Câu hỏi: Xin chào Luật sư, tôi có vấn đề cần nhờ đến Luật sư tư vấn như sau: hiện tại vợ chồng tôi đang có mâu thuẫn trầm trọng, chúng tôi không thể sống chung với nhau được nữa. Sau khi suy nghĩ chúng tôi muốn ly hôn để giải thoát cho nhau. Tuy nhiên, vì kiến thức về pháp luật của tôi còn hạn chế cho nên tôi có mấy câu hỏi muốn nhờ Luật sư giải đáp cho tôi: theo quy định pháp luật thì ly hôn là gì? Hồ sơ tôi cần chuẩn bị ly hôn gồm những gì? Thủ tục ly hôn diễn ra như thế nào? Khi ly hôn tài sản và con giải quyết như thế nào? Kính nhờ Luật sư giải đáp giúp tôi!

Trả lời: Công ty Luật Vũ Như Hảo & Cộng sự xin giải đáp các câu hỏi của bạn như sau:

1. Ly hôn là gì?
Theo khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Khi chấm dứt quan hệ hôn nhân sẽ hủy bỏ các trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm trong hôn nhân, và các ràng buộc dân sự khác.
Quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn: Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn. Trong trường hợp vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn.

2. Hồ sơ ly hôn gồm những gì?
Hồ sơ ly hôn gồm những giấy tờ sau:
– Giấy đăng ký kết hôn (bản chính; nếu không có bản chính thì xin trích lục đăng ký kết hôn hoặc bản sao chứng thực);
– Giấy khai sinh của các con (Bản sao có công chứng hoặc chứng thực);
– Chứng minh nhân dân/Căn cước công dân và sổ hộ khẩu của nguyên đơn (Bản sao có công chứng hoặc chứng thực);
– Giấy tờ về tài sản nếu có yêu cầu Tòa án phân chia.

3. Thủ tục ly hôn tại Tòa án như thế nào?
Thụ lý đơn yêu cầu ly hôn như sau:
Toà án thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Nếu trong trường hợp hai người không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Toà án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ly hôn có 2 dạng là: thuận tình ly hôn (cả hai vợ chồng đều mong muốn và cùng ký vào đơn ly hôn) và ly hôn theo yêu cầu của một bên vợ hoặc chồng. Trường hợp nếu hai bên vợ chồng thuận tình ly hôn và thỏa thuận với nhau giải quyết được tất cả các nội dung quan hệ vợ chồng khi ly hôn thì Tòa án công nhận ra phán quyết dưới hình thức là quyết định. Trường hợp vợ chồng có mâu thuẫn, tranh chấp thì Tòa án ra phán quyết dưới dạng bản án ly hôn.

TRƯỜNG HỢP 1: Đơn phương ly hôn (Ly hôn theo yêu cầu của một bên):
Trước khi tiến hành giải quyết vụ án ly hôn thì Tòa án sẽ chuyển Hồ sơ qua trung tâm hòa giải trước. Việc thông qua một bên thứ ba để hòa giải giữa các cặp vợ chồng nhằm Việc hoà giải được thực hiện theo quy định của pháp luật về hoà giải ở cơ sở. Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Toà án tiến hành hoà giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. để thuyết phục, hỗ trợ cho các bên thỏa thuận, giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp bất đồng. Khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hoà giải không thành thì Toà án xem xét, giải quyết việc ly hôn.

Căn cứ để cho ly hôn như sau:
Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng một bên vợ/chồng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc hai bên vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được. Mục đích hôn nhân không đạt được là khi vợ chồng không còn tình nghĩa với nhau; không bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng; hai bên không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của nhau.
Theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa án quyết định cho ly hôn. Vì vậy, khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải không thành thì Tòa án xem xét, giải quyết việc ly hôn.

Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật.

Giải quyết con chung khi ly hôn:

Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn:
Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi (căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con), nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Con dưới ba sáu tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu như các bên không có thỏa thuận khác.

Quyền thăm nom con sau khi ly hôn:
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con và không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn:
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con và phải tính đến nguyện vọng của con, nếu con từ đủ chín tuổi trở lên.

Chia tài sản chung khi ly hôn
Căn cứ theo điều 38, Luật Hôn nhân và gia đình 2014:
Điều 38. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.
3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này”.
Tài sản chung không tự thỏa thuận được thì tòa án sẽ giải quyết theo điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 được quy định như sau:
Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.
2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.”
Như vậy, theo quy định thì tài sản chung của vợ chồng bạn sẽ được chia đôi. Tuy nhiên Tòa án sẽ xem xét thêm các yếu tố quy định trong điều trên.

TRƯỜNG HỢP 2: Thuận tình ly hôn
Căn cứ vào Điều 55 Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 397 Bộ Luật dân sự 2015 quy định về giải quyết ly hôn thuận tình như sau:
Điều 55. Thuận tình ly hôn
Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.”
Điều 397. Hòa giải và công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
1. Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, trước khi tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán có thể tham khảo ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em về hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và nguyện vọng của vợ, chồng, con có liên quan đến vụ án.
2. Thẩm phán phải tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ; giải thích về quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa cha, mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia đình, về trách nhiệm cấp dưỡng và các vấn đề khác liên quan đến hôn nhân và gia đình.
3. Trường hợp sau khi hòa giải, vợ, chồng đoàn tụ thì Thẩm phán ra quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu của họ.
4. Trường hợp hòa giải đoàn tụ không thành thì Thẩm phán ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự theo quy định tại Điều 212 của Bộ luật này khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:
a) Hai bên thực sự tự nguyện ly hôn;
b) Hai bên đã thỏa thuận được với nhau về việc chia hoặc không chia tài sản chung, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con;
c) Sự thỏa thuận phải bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ, con.
5. Trường hợp hòa giải đoàn tụ không thành và các đương sự không thỏa thuận được về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Tòa án đình chỉ giải quyết việc dân sự về công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn và thụ lý vụ án để giải quyết. Tòa án không phải thông báo về việc thụ lý vụ án, không phải phân công lại Thẩm phán giải quyết vụ án. Việc giải quyết vụ án được thực hiện theo thủ tục chung do Bộ luật này quy định.”
Như vậy, khi giải quyết Ly hôn thuận tình thì cả hai vợ chồng phải tự nguyện đồng ý ly hôn. Vợ chồng phải thỏa thuận được về quyền nuôi dưỡng chăm sóc con chung, tài sản chung. Về phần tài sản chung nếu chưa thỏa thuận được có thể tách giải quyết riêng sau khi ly hôn, thủ tục cũng giống như ly hôn đơn phương đã nêu ở trên.

Trên đây là giải đáp của chúng tôi gửi đến bạn, nếu bạn cần tư vấn thêm hoặc muốn sử dụng dịch vụ pháp lý của công ty chúng tôi vui lòng liên hệ qua những cách sau:
Điện thoại/Zalo: 0386 533 086
E-mail: VPLSHaovaCongsu4@gmail.com