Thủ tục ly hôn với người vợ đã bỏ đi không liên lạc được

HỎI:

Luật sư vui lòng tư vấn giúp tôi trường hợp sau của tôi có thể xin ly hôn được không? Vợ tôi đã bỏ nhà đi khoảng 4 năm trước sau một lần chúng tôi cãi nhau. Lúc đầu tôi nghĩ vợ tôi chỉ giận bỏ về nhà ngoại một vài ngày sẽ quay lại nhưng hai ngày sau tôi liên lạc với nhà ba mẹ cô ấy nhưng cũng không thấy. Sau khi vợ tôi bỏ đi tôi đã tìm mọi cách tìm kiếm nhưng từ đó đến nay vẫn không có liên lạc. Hai vợ chồng có đăng kí kết hôn nhưng chưa có con chung. Vậy xin hỏi bây giờ tôi muốn ly hôn thì phải làm thế nào?

tu-van-ly-hon-donphuong

TRẢ LỜI:

Vợ của bạn đã tự ý bỏ đi dù vì bất kỳ lý do gì trong thời gian dài và không có tin tức gì là lý do để bạn có thể nộp đơn xin ly hôn tại Tòa án. Tuy nhiên, bạn phải thực hiện một số thủ tục sau:

1/ Trước hết bạn phải làm thủ tục tục yêu cầu Tòa án tuyên bố vợ của bạn là đã mất tích. Sau khi có quyết định của Tòa án tuyên bố vợ anh là đã mất tích, anh sẽ làm thủ tục yêu cầu ly hôn với người mất tích.

Điều 89 khoản 2 luật hôn nhân gia đình năm 2000 quy định “Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn”.

Trong trường hợp này nếu việc tìm kiếm không có kết quả, Tòa án ra quyết định tuyên bố mất tích và bạn nộp đơn ly hôn kèm theo quyết định trên sẽ được Tòa án giải quyết cho ly hôn.

2/ Trong trường hợp khi bạn nộp đơn ly hôn và Tòa án đã liên lạc được với vợ bạn thì theo các quy định pháp luật thì đây là yêu cầu ly hôn của một bên, Tòa án phải thực hiện thủ tục niêm yết công khai để triệu tập bị đơn theo quy định tại khoản 2, khoản 3, Điều 154 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, cụ thể là:

“2. Việc niêm yết công khai văn bản tố tụng do Tòa án trực tiếp hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được cấp, tống đạt hoặc thông báo được thực hiện theo thủ tục sau đây:

a) Niêm yết bản chính tại trụ sở Tòa án, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được cấp, tống đạt hoặc thông báo;

b) Niêm yết bản sao tại nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được cấp, tống đạt hoặc thông báo;

c) Lập biên bản về việc thực hiện thủ tục niêm yết công khai, trong đó ghi rõ ngày, tháng, năm niêm yết.

3. Thời gian niêm yết công khai văn bản tố tụng là mười lăm ngày, kể từ ngày niêm yết”.

Nếu Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà người vợ cố tình không có mặt thì tòa lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Nếu người vợ vẫn không có mặt tại phiên tòa thì tòa án sẽ xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, cụ thể là:

“Điều 200. Sự có mặt của bị đơn tại phiên toà

1. Bị đơn phải có mặt tại phiên toà theo giấy triệu tập của Toà án; nếu vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên toà.

2. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ”.

Như vậy, theo các quy định trên, Tòa án sẽ giải quyết yêu cầu ly hôn cho bạn kể cả khi người vợ không chịu có mặt tại phiên tòa.

Trân trọng,

Luật sư Vũ Như Hảo
www.VuNhuHao.com
Skype: vu.nhu.hao
Yahoo Messenger:  hao_vunhu@yahoo.com
E-mail:  LawyerVuNhuHao@Gmail.com
Facebook:
https://www.facebook.com/LuatsuNhaTrang 
Cellphone: 0914 086292