NỢ CHUNG ĐƯỢC GIẢI QUYẾT NHƯ THẾ NÀO SAU KHI LY HÔN?

CÂU HỎI: Chào Luật sư, em có một vấn đề muốn nhờ Luật sư tư vấn giúp em. Sự việc như sau:
Vợ chồng em đến nay kết hôn đã được 4 năm, tuy nhiên trong quá trình chung sống vì không hòa hợp về lối sống nên thường xuyên cãi vã. Hiện tại cuộc sống vợ chồng em đang rất căng thẳng và không còn tiếng nói chung nên chúng em quyết định ly hôn. Tuy nhiên, sau khi kết hôn vợ chồng em đã cùng nhau góp tiền mua căn chung cư Vĩnh Điềm Trung, thành phố Nha Trang để ở. Nhưng vì số tiền không đủ nên chúng em đã vay thêm ngân hàng một ít để đủ tiền mua căn chung cư, số tiền vay được trả góp hàng tháng cho ngân hàng. Hiện tại chúng em đã cùng nhau trả được 14 tháng còn 12 tháng nữa là hết nợ. Vậy liệu còn nợ tiền ngân hàng thì chúng em có ly hôn được không? Tài sản này được chia như thế nào? Nợ ngân hàng ai sẽ trả sau khi ly hôn?
TRẢ LỜI:
Công ty Luật Vũ Như Hảo & Cộng sự giải đáp thắc mắc của bạn như sau:
Vấn đề thứ nhất: Còn nợ tiền ngân hàng thì có ly hôn được không?
Căn cứ vào Điều 55 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về giải quyết ly hôn như sau:
Điều 55. Thuận tình ly hôn
Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.
Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên
1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.”
Trong trường hợp này nếu vợ chồng bạn cùng đồng thuận ly hôn, vấn đề về chia tài sản chung, nợ chung, quyền nuôi và chăm sóc con chung được hai bạn thỏa thuận được, không có bất cứ phát sinh tranh chấp nào xảy ra thì hai bạn sẽ được Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Trường hợp các bạn xảy ra tranh chấp về các vấn đề nêu trên tòa án sẽ xem xét giải quyết theo yêu cầu của người khởi kiện về việc ly hôn. Vậy, việc vợ chồng bạn còn nợ tiền trong Ngân hàng không ảnh hướng tới việc ly hôn của hai bạn. Vấn đề này sẽ được tòa án giải quyết hoặc nếu hai bạn tự thỏa thuận được về nghĩa vụ trả nợ chung.
Về vấn đề thứ hai: Tài sản chung được chia như thế nào sau khi ly hôn? Và Nợ chung ai sẽ trả sau khi ly hôn?
Nợ chung được hiểu là là các phần nợ hình thành trong quá trình hôn nhân, có sự xác nhận vay nợ của hai vợ chồng hoặc nhưng khoản nợ mà chỉ có vợ hoặc chồng vay riêng nhưng được dùng vào mục đích chung cho gia đình.
Từ việc xác định được nợ chung hay riêng thì sẽ được phân chia theo điều 37, Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:
Điều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng
Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:
1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;
2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;
3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;
4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;
5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;
6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan”.
Căn cứ vào quy định trên thì được hiểu như sau:
– Nợ riêng: Nợ của ai, người đó có nghĩa vụ thanh toán.
– Nợ chung: Hai vợ chồng có nghĩa vụ thanh toán phần nợ chung này.
Từ những quy định trên hai vợ chồng có thể tự thỏa thuận với nhau về nghĩa vụ nợ, nếu không thỏa thuận được thì đề nghị Tòa án giải quyết, căn cứ theo điều 38, Luật hôn nhân và gia đình 2014:
Điều 38. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.
3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này”.
Như vậy: trong trường hợp này nợ được của vợ chồng bạn được hiểu là nợ chung vì thế cả hai bạn đều có nghĩa vụ cùng trả nợ cho Ngân hàng. Còn tài sản chung của vợ chồng bạn nếu vợ chồng bạn không tự thỏa thuận được thì tòa án sẽ giải quyết theo điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 được quy định như sau:
Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.
2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.”
Như vậy, theo quy định thì tài sản chung của vợ chồng bạn sẽ được chia đôi. Tuy nhiên Tòa án sẽ xem xét thêm các yếu tố quy định trong điều trên.

Trên đây là giải đáp của chúng tôi gửi đến bạn, nếu bạn còn thắc mắc cần tư vấn thêm hoặc sử dụng dịch vụ pháp lý của Công ty chúng tôi xin vui lòng liên hệ qua những cách sau:
Điện thoại/Zalo: 0963 821 699
E-mail: VPLSHaovaCongsu4@gmail.com